• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA

Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA
Nghị định số 374/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện đấu thầu theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA

Chính phủ mới đây vừa ban hành Nghị định số 374/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA). Nghị định có hiệu lực từ ngày 14/11/2026, góp phần cụ thể hóa các quy định về mua sắm chính phủ trong khuôn khổ ba hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.

Nghị định số 374/2026/NĐ-CP bao gồm 4 chương, 19 điều quy định các điều khoản thực hiện đấu thầu theo 3 Hiệp định này. Cụ thể, về phạm vi điều chỉnh, Nghị định số 374/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động lựa chọn nhà thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của 3 Hiệp định đối với gói thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: Có giá gói thầu bằng hoặc cao hơn ngưỡng giá quy định tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này; Thuộc dự án, dự toán của cơ quan mua sắm được liệt kê tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này; Cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc kết hợp hàng hóa và dịch vụ nêu tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này; Không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều này và các trường hợp loại trừ nêu tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này.

Về đối tượng áp dụng, Nghị định số 374/2026/NĐ-CP áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đấu thầu quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định.

Xác định rõ phạm vi điều chỉnh và ngưỡng giá gói thầu

Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định số 374/2026/NĐ-CP là xác định điều kiện áp dụng đối với các gói thầu thuộc phạm vi cam kết về mua sắm chính phủ. Theo đó, việc xác định phải căn cứ đồng thời vào giá gói thầu, cơ quan mua sắm, danh mục hàng hóa và dịch vụ, cũng như các trường hợp loại trừ được quy định tại Nghị định và các phụ lục kèm theo.

Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA
Nghị định số 374/2026/NĐ-CP quy định ngưỡng giá gói thầu theo từng nhóm cơ quan mua sắm, loại hàng hóa, dịch vụ và từng hiệp định

Đáng chú ý, Nghị định 374 cũng quy định ngưỡng giá gói thầu theo từng nhóm cơ quan mua sắm, loại hàng hóa, dịch vụ và từng hiệp định. Một số ngưỡng giá được điều chỉnh theo lộ trình, thay vì áp dụng cố định trong toàn bộ thời gian thực hiện cam kết.

Việc quy định lộ trình ngưỡng giá có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác lập kế hoạch và tổ chức đấu thầu. Các cơ quan liên quan cần xác định đúng nhóm gói thầu, thời điểm áp dụng và phụ lục tương ứng để bảo đảm thực hiện đúng cam kết.

Bảo đảm cạnh tranh, hạn chế các điều kiện gây bất bình đẳng

Bên cạnh phạm vi áp dụng, các quy định về hồ sơ mời thầu là nội dung cần được đặc biệt quan tâm. Theo Nghị định, hồ sơ mời thầu phải được xây dựng phù hợp với pháp luật về đấu thầu và không được đưa ra những điều kiện hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một hay một số nhà thầu, dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng.

Đáng chú ý, các yêu cầu về kinh nghiệm không được sử dụng theo cách tạo ra rào cản không phù hợp đối với nhà thầu. Hồ sơ mời thầu không được đặt điều kiện nhà thầu phải từng ký kết hoặc thực hiện hợp đồng với cơ quan mua sắm của một quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể, hoặc phải có kinh nghiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên lãnh thổ đó để làm căn cứ loại bỏ nhà thầu.

Đối với yêu cầu về nhãn hiệu và xuất xứ hàng hóa, Nghị định số 374/2026/NĐ-CP nêu rõ trừ trường hợp áp dụng biện pháp ưu đãi trong nước theo quy định tại khoản 1 Điều 10 và đấu thầu nội khối theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 4 của Nghị định này, hồ sơ mời thầu không được nêu yêu cầu về xuất xứ cụ thế của hàng hóa.

Khi không thể mô tả hàng hóa bằng các đặc tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ hoặc tiêu chuẩn công nghệ, hồ sơ mời thầu có thể sử dụng nhãn hiệu hoặc catalô để tham khảo, minh họa, nhưng phải kèm cụm từ “hoặc tương đương” và xác định rõ các tiêu chí đánh giá tính tương đương.

Những quy định này yêu cầu bên mời thầu chú trọng tính khách quan, khả năng kiểm chứng và sự phù hợp của tiêu chí đánh giá với mục tiêu mua sắm. Đồng thời, nhà thầu cần nghiên cứu kỹ hồ sơ mời thầu để nhận diện các yêu cầu về năng lực, kỹ thuật và tiêu chuẩn đánh giá có liên quan trực tiếp đến gói thầu.

Phân biệt quy trình đấu thầu nội khối và đấu thầu quốc tế

Nghị định số 374/2026/NĐ-CP cũng quy định về quy trình lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh. Theo đó, việc tổ chức thực hiện có sự phân biệt giữa đấu thầu nội khối và đấu thầu quốc tế.

Đối với đấu thầu nội khối, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện qua mạng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy trình và lộ trình quy định tại Nghị định này, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và theo lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 18 của Nghị định này, trừ trường hợp quy định tại khoản 11 Điều 98 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP. Đối với đấu thầu quốc tế, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện không qua mạng theo quy định tại Nghị định này và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA
Đối với yêu cầu về nhãn hiệu và xuất xứ hàng hóa, Nghị định 374/2026/NĐ-CP đặt ra nguyên tắc hạn chế việc chỉ định nhãn hiệu hoặc xuất xứ cụ thể, trừ những trường hợp được phép theo quy định

Việc phân biệt này đặt ra yêu cầu đối với chủ đầu tư và bên mời thầu trong việc xác định đúng hình thức, phương thức tổ chức và quy trình áp dụng cho từng gói thầu. Công tác chuẩn bị hồ sơ, đăng tải thông tin và tổ chức đánh giá cần được thực hiện trên cơ sở quy định tương ứng, tránh áp dụng máy móc một quy trình cho các trường hợp khác nhau.

Nghị định 374 cũng quy định rõ về thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu. Theo đó, đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn, thời gian chuẩn bị hồ sơ quan tâm hoặc hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 25 ngày, tính từ ngày đăng tải thông báo mời quan tâm hoặc thông báo mời sơ tuyển đến thời điểm đóng thầu.

Trong trường hợp khẩn cấp và cơ quan mua sắm xác định thời gian 25 ngày không khả thi, thời gian chuẩn bị hồ sơ có thể được rút xuống tối thiểu 10 ngày. Đối với hồ sơ dự thầu, thời gian chuẩn bị tối thiểu là 30 ngày, tính từ ngày đăng tải thông báo mời thầu đối với đấu thầu rộng rãi không lựa chọn danh sách ngắn hoặc từ ngày gửi thư mời thầu đến các nhà thầu có tên trong danh sách ngắn đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn. Trường hợp cơ quan mua sắm tiếp nhận hồ sơ dự thầu qua mạng, thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 25 ngày.

Nghị định cũng cho phép rút ngắn thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu xuống tối thiểu 10 ngày trong một số trường hợp. Trong đó có trường hợp khẩn cấp mà cơ quan mua sắm xác định thời gian chuẩn bị theo quy định chung không khả thi; gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường, có đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương về chất lượng và có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng; hoặc gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng.

Yêu cầu chủ động rà soát và tổ chức thực hiện

Với các quy định về phạm vi điều chỉnh, ngưỡng giá, hồ sơ mời thầu và quy trình lựa chọn nhà thầu, Nghị định số 374/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu chủ động chuẩn bị đối với cả cơ quan mua sắm và nhà thầu.

Đối với cơ quan mua sắm, nhiệm vụ quan trọng là xác định chính xác gói thầu có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không, cập nhật ngưỡng giá theo từng giai đoạn và xây dựng hồ sơ mời thầu bảo đảm cạnh tranh, không phân biệt đối xử. Việc nghiên cứu các phụ lục kèm theo có vai trò thiết yếu bởi đây là căn cứ xác định danh sách cơ quan mua sắm, danh mục hàng hóa, dịch vụ, ngưỡng giá và các trường hợp loại trừ.

Đối với nhà thầu, việc nắm vững quy định sẽ hỗ trợ quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu, đáp ứng yêu cầu về năng lực và kỹ thuật, đồng thời hiểu rõ hơn các điều kiện tham gia những gói thầu thuộc phạm vi cam kết quốc tế.

Có thể thấy, Nghị định số 374/2026/NĐ-CP là văn bản quan trọng trong việc cụ thể hóa quy định đấu thầu theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA. Hiệu quả thực thi sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc nhận diện đúng phạm vi áp dụng, tuân thủ các yêu cầu về cạnh tranh và thực hiện đúng quy trình lựa chọn nhà thầu. Do đó, việc nghiên cứu toàn văn Nghị định cùng các phụ lục tương ứng là cần thiết để bảo đảm áp dụng chính xác trong từng trường hợp cụ thể.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết