• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngành Công Thương: Hội nhập sâu rộng để nâng tầm kinh tế Việt Nam

Với mạng lưới FTA phủ khắp hơn 60 nền kinh tế, ngành Công Thương đã góp phần tạo nền tảng để Việt Nam bứt phá về xuất khẩu, công nghiệp chế biến và quy mô nền kinh tế.

Dấu ấn hội nhập của ngành Công Thương

Nhìn lại chặng đường 75 năm Ngày Truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), có thể thấy hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những dấu ấn nổi bật nhất, góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Giai đoạn 2021 - 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt trên 1.940 tỷ USD, tiếp tục xác lập kỷ lục mới về quy mô thương mại quốc tế. Ảnh minh họa

Giai đoạn 2021 - 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt trên 1.940 tỷ USD, tiếp tục xác lập kỷ lục mới về quy mô thương mại quốc tế. Ảnh minh họa

Ngay từ giữa những năm 1990, nhiều chủ trương, chính sách lớn về hội nhập kinh tế quốc tế đã được ban hành, đặt nền móng cho quá trình mở cửa nền kinh tế. Ngày 18/11/1996, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại giai đoạn 1996 - 2000. Đây được xem là văn kiện quan trọng định hướng tiến trình hội nhập của Việt Nam trong thời kỳ đầu đổi mới.

Tiếp đó, Luật Thương mại được Quốc hội thông qua năm 1997 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động thương mại trong bối cảnh nền kinh tế từng bước mở cửa và hội nhập với khu vực, thế giới.

Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế nhằm giúp Chính phủ điều phối các hoạt động tham gia ASEAN, APEC, ASEM và chỉ đạo đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Cùng với đó, hàng loạt chính sách về thuế quan, xuất nhập khẩu, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phù hợp với thông lệ quốc tế.

Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết này thể hiện quyết tâm chủ động hội nhập sâu rộng của Việt Nam, coi hội nhập là động lực quan trọng để phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Song song với hoàn thiện thể chế, Việt Nam liên tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN; năm 1996 tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM); năm 1998 trở thành thành viên chính thức của APEC.

Một trong những bước ngoặt lớn của tiến trình hội nhập là việc ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2000. Hiệp định này mở ra cánh cửa lớn để hàng hóa Việt Nam tiếp cận sâu hơn thị trường Mỹ, đồng thời tạo cú hích mạnh cho cải cách thể chế và phát triển xuất khẩu.

Đặc biệt, tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO sau hơn một thập niên đàm phán. Đây được xem là bước đột phá chiến lược trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và cũng là dấu ấn lớn của ngành Công Thương trong công tác tham mưu, đàm phán và nội luật hóa các cam kết quốc tế.

Thời điểm đó, nền kinh tế Việt Nam mới bước đầu thoát khỏi giai đoạn khó khăn kéo dài, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn quen với cơ chế bảo hộ. Vì vậy, quyết định gia nhập WTO được đánh giá là bước đi táo bạo, thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh hội nhập của Việt Nam.

Từ năm 2010 đến nay, tiến trình hội nhập tiếp tục được đẩy mạnh với hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới có tiêu chuẩn cao. Việt Nam lần lượt tham gia và ký kết nhiều FTA quan trọng như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA).

Khác với các FTA truyền thống, các FTA thế hệ mới có phạm vi cam kết sâu rộng hơn, không chỉ bao gồm thương mại hàng hóa mà còn mở rộng sang các lĩnh vực như đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, lao động, môi trường và phát triển bền vững. 

Xuất khẩu, công nghiệp chế biến và tăng trưởng GDP bứt phá nhờ hội nhập

Đến nay, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất khu vực, với mạng lưới FTA trải rộng trên hơn 60 nền kinh tế toàn cầu. Hiệu quả của tiến trình hội nhập được thể hiện rõ nét qua sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động xuất khẩu trong nhiều năm qua.

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 1/8/2020, đóng vai trò là

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 1/8/2020, đóng vai trò là "đòn bẩy vàng" xóa bỏ hơn 99% thuế quan, giúp hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu vào thị trường 27 nước EU. Ảnh minh họa

Nếu giai đoạn 1996 - 2000, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới đạt khoảng 51,82 tỷ USD, thì sang giai đoạn 2001 - 2005 đã tăng lên 110,81 tỷ USD, cao gấp hơn 2 lần. Đến giai đoạn 2006 - 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh, đạt 280,3 tỷ USD, cao gấp 2,53 lần so với giai đoạn trước.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong các giai đoạn tiếp theo. Giai đoạn 2011 - 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 655 tỷ USD; giai đoạn 2016 - 2020 tăng lên khoảng 1.181 tỷ USD.

Đáng chú ý, giai đoạn 2021 - 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt trên 1.940 tỷ USD, tiếp tục xác lập kỷ lục mới về quy mô thương mại quốc tế. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP để mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Không chỉ tăng mạnh về quy mô, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu cũng chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng hàng thô và khoáng sản giảm dần.

Tỷ trọng công nghiệp chế biến trong giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng mạnh từ 80,56% năm 1995 lên 90,02% năm 2010, trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng công nghiệp. Đến năm 2025, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi chiếm trên 75% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp. Riêng năm 2025, giá trị tăng thêm của ngành chế biến, chế tạo tăng gần 9,97%, mức cao nhất trong giai đoạn 2019 - 2025.

Đáng chú ý, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu xuất khẩu. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước.

Cùng với xuất khẩu và công nghiệp, quy mô nền kinh tế Việt Nam cũng tăng trưởng mạnh trong quá trình hội nhập. Nếu năm 1986, quy mô GDP của nền kinh tế chỉ đạt khoảng 8 tỷ USD thì đến năm 2010 đã đạt khoảng 116 tỷ USD, năm 2020 tăng lên khoảng 343 tỷ USD và năm 2025 ước đạt trên 500 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm nền kinh tế lớn của ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người cũng cải thiện rõ rệt, từ khoảng 1.331 USD năm 2010 lên trên 5.000 USD vào năm 2025.

Những thành tựu này phản ánh hiệu quả của quá trình đổi mới, hội nhập và vai trò quan trọng của ngành Công Thương trong việc mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu, phát triển công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Tăng trưởng nhanh đi cùng yêu cầu phát triển bền vững

Năm 2026 đánh dấu 75 năm Ngày truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững hơn cho nền kinh tế. Sau 75 năm đồng hành cùng đất nước, ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò “mạch máu” của nền kinh tế mà còn trở thành lực lượng tiên phong trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Ngành Công Thương giữ vai trò trung tâm khi trực tiếp gắn với các trụ cột then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo; chuyển dịch năng lượng; phát triển thương mại hiện đại và mở rộng chuỗi giá trị xuất khẩu. Ảnh minh họa

Ngành Công Thương giữ vai trò trung tâm khi trực tiếp gắn với các trụ cột then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo; chuyển dịch năng lượng; phát triển thương mại hiện đại và mở rộng chuỗi giá trị xuất khẩu. Ảnh minh họa

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, xác định hội nhập là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước thời kỳ mới. Để triển khai hiệu quả nghị quyết này, tháng 8/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2320/QĐ-BCT về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 153/NQ-CP của Chính phủ.

Theo đó, Bộ Công Thương tập trung triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như hoàn thiện thể chế thương mại đa phương và song phương; thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu; phát triển công nghiệp hỗ trợ, năng lượng bền vững; tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thương mại điện tử, chuyển đổi số và kinh tế xanh.

Trong bối cảnh Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặt ra nhiều mục tiêu tăng trưởng cao cho giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra với ngành Công Thương không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn phải tăng trưởng bền vững. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, giải pháp quan trọng hiện nay là nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt ở lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp trọng điểm.

Việc phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp doanh nghiệp Việt nâng cao khả năng sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào phục vụ xuất khẩu, từ đó tăng tỷ lệ nội địa hóa và cải thiện giá trị gia tăng của hàng hóa Việt Nam.

Song song với đó, thị trường trong nước tiếp tục được xác định là “không gian tăng trưởng” quan trọng. Ngành Công Thương cần đẩy mạnh các chương trình kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy hàng Việt chiếm lĩnh thị trường nội địa, đồng thời phát triển năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, trong giai đoạn tới, tăng trưởng xuất khẩu vẫn rất quan trọng nhưng điều cốt lõi không chỉ là mở rộng kim ngạch mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng và giá trị mà nền kinh tế thu được từ hoạt động xuất khẩu. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt phải tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từng bước dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn thay vì chỉ dừng ở gia công.

"Ngành Công Thương đang đứng trước những yêu cầu mới: Duy trì tốc độ tăng trưởng cao; nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng sức chống chịu và củng cố nội lực doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động", TS. Lê Duy Bình chia sẻ.

Từ quyết tâm đột phá đưa Việt Nam hội nhập vào dòng chảy kinh tế thế giới, ngành Công Thương đã và đang đóng vai trò quan trọng trong thể chế hóa các chính sách kinh tế theo hướng mở rộng quyền kinh doanh, khơi thông nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, ngành chủ động tham mưu nội luật hóa các cam kết quốc tế, hoàn thiện chính sách phù hợp với các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết