Sẵn sàng bứt phá với tăng trưởng 2 con số (Bài 3): Khơi thông nguồn lực tạo “đòn bẩy”
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao, bình quân GDP giai đoạn 2026-2031 đạt trên 10%. Mục tiêu này đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực ở quy mô lớn hơn nhiều so với giai đoạn trước đây, đồng thời việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là yếu tố quyết định.
|
| Tăng trưởng kinh tế 2 con số được Đảng và Nhà nước đặt ra và quyết tâm thực hiện. |
BÀI 3: KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC TẠO “ĐÒN BẨY”
Bảo đảm quy mô vốn đầu tư
Tại Hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số”, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đã được Đảng và Nhà nước đặt ra, trong đó yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển trở thành nhiệm vụ trọng tâm.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, cấu trúc nguồn vốn hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn và các kênh huy động vốn dài hạn vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Do đó, việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, nâng cao chất lượng thị trường và tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực trở thành yêu cầu quan trọng nhằm hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Các nghiên cứu cho thấy, để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số, khu vực công nghiệp và xây dựng cần đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 11 - 12% mỗi năm, trong khi khu vực dịch vụ cần tăng trưởng trên 10% mỗi năm. Điều này kéo theo nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế. Theo ước tính, riêng trong năm 2026, nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế có thể lên tới khoảng 4,9 - 5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 33 - 33,7% GDP. Đây là con số cho thấy quy mô nguồn lực tài chính cần được huy động trong thời gian tới là rất lớn.
Với nguồn vốn này, kinh nghiệm từ nhiều nền kinh tế tăng trưởng nhanh cho thấy cần phát triển một hệ sinh thái tài chính đa tầng, trong đó kết hợp linh hoạt nhiều kênh huy động vốn khác nhau. Trước hết, tín dụng ngân hàng thương mại tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc tài trợ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án hạ tầng và công nghiệp quy mô lớn. Không chỉ cung cấp vốn, các ngân hàng còn đóng vai trò tư vấn, cấu trúc tài chính và thu xếp các khoản vay hợp vốn cho các dự án lớn.
Bên cạnh đó, thị trường vốn cần được phát triển mạnh mẽ hơn để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho doanh nghiệp. Các công cụ như phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án và cổ phiếu sẽ giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo thêm lựa chọn huy động vốn cho các doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), Việt Nam cần quy mô vốn đầu tư rất lớn.
Theo ước tính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025. Điều này đồng nghĩa với việc vốn đầu tư phải tăng trưởng bình quân khoảng 16% mỗi năm và tỷ lệ đầu tư/GDP cần nâng lên khoảng 40%.
“Để đáp ứng nhu cầu nguồn lực khổng lồ cho tăng trưởng, chính sách tài chính cần được triển khai theo hướng mở rộng, nhưng có trọng tâm, đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô”, bà Tâm chia sẻ.
![]() |
| Bên cạnh việc khơi thông nguồn lực thì cũng phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. |
Cũng theo bà Tâm, ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò trọng tâm chiến lược trong việc dẫn dắt đầu tư. Đồng thời, nguồn lực ngân sách cần tập trung vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao như hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số và các dự án thúc đẩy chuyển đổi xanh. Việc phân bổ vốn phải gắn chặt với quy hoạch quốc gia và quy hoạch vùng, tránh tình trạng đầu tư dàn trải.
Song song với đó, việc cơ cấu lại thu - chi ngân sách được xem là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo dư địa cho đầu tư phát triển. Cụ thể, tiếp tục hiện đại hóa quản lý thu, mở rộng cơ sở thuế và bảo đảm tính công bằng, minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, chi ngân sách cần ưu tiên cho đầu tư phát triển, kiểm soát chặt chẽ chi thường xuyên và đẩy mạnh tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
Đặc biệt, một trong những giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho các dự án hạ tầng lớn. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho giao thông, năng lượng và hạ tầng số ngày càng tăng, cơ chế PPP cần được thiết kế minh bạch và ổn định hơn, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu để tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh huy động nguồn lực trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế. Do vậy, việc phát triển thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn và hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu đặt ra là đưa quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt ít nhất 100% GDP vào năm 2026.
Đối với thị trường trái phiếu, cần tiếp tục củng cố thị trường trái phiếu chính phủ làm chuẩn tham chiếu cho thị trường tài chính, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch và bền vững. Đặc biệt, việc khuyến khích phát hành trái phiếu xanh được xem là giải pháp quan trọng để thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững…
| Yếu tố quyết định để nguồn vốn đầu tư thực sự tạo ra tăng trưởng bền vững chính là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình phê duyệt dự án và bảo đảm tính ổn định của chính sách. Chính sách tài chính trong giai đoạn tới phải thể hiện rõ vai trò trung tâm trong thiết kế thể chế huy động nguồn lực đa dạng. Khi kỷ luật tài khóa được bảo đảm, thị trường vốn phát triển hiện đại và môi trường đầu tư minh bạch, nguồn lực xã hội sẽ được khơi thông mạnh mẽ, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam. |




















