• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng trưởng kinh tế 2 con số: Mệnh lệnh từ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Mục tiêu tăng trưởng trên 10%/năm là yêu cầu chiến lược từ Nghị quyết Đại hội XIV, đòi hỏi Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng và khơi thông động lực mới.

Khơi thông động lực tăng trưởng

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác lập tầm nhìn xuyên suốt: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, đồng thời bảo đảm tự chủ chiến lược và củng cố vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Ảnh minh họa

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Ảnh minh họa

Trong giai đoạn 2026–2030, các chỉ tiêu kinh tế được đặt ở mức cao, thể hiện quyết tâm chính trị rõ rệt. Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD; kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP. Đặc biệt, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) dự kiến vượt 55%, cho thấy định hướng chuyển dịch mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo.

Song song với đó, các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được chú trọng: tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP; tỷ lệ huy động ngân sách đạt 18% GDP; bội chi khoảng 5% GDP; tỷ lệ đô thị hóa trên 50%. Ở góc độ xã hội, mục tiêu lọt vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất cũng phản ánh cách tiếp cận phát triển toàn diện, lấy con người làm trung tâm.

Đáng chú ý, định hướng phát triển giai đoạn tới nhấn mạnh việc thiết lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò động lực chính. Các trụ cột như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được kỳ vọng tạo ra phương thức sản xuất mới, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Cùng với đó là các quá trình chuyển đổi mang tính nền tảng: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và tái cơ cấu nguồn nhân lực. Việc hình thành các cực tăng trưởng, vùng kinh tế trọng điểm, đô thị và đặc khu kinh tế thế hệ mới được xác định là động lực quan trọng để nâng tầm vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm 2026 đánh dấu điểm khởi đầu của một chu kỳ phát triển mới, trong đó mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ mang ý nghĩa định lượng mà còn thể hiện yêu cầu chuyển đổi sâu sắc về mô hình phát triển. Thực tế cho thấy, nền kinh tế Việt Nam những năm qua đã duy trì ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, xu hướng bảo hộ gia tăng, đứt gãy chuỗi cung ứng và những giới hạn nội tại của các động lực truyền thống đang đặt ra thách thức lớn.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn Tài chính và Tiền tệ Quốc gia, tăng trưởng là câu chuyện dài hạn, không chỉ trong một giai đoạn mà kéo dài đến nhiều thập kỷ. Vì vậy, Việt Nam cần đồng thời đạt hai mục tiêu: đổi mới mô hình để tăng trưởng nhanh và bảo đảm tính bền vững của nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực dẫn gợi ý của Ngân hàng Thế giới về mô hình “3i” gồm đầu tư (investment), hấp thụ công nghệ (infusion) và đổi mới sáng tạo (innovation). Tuy nhiên, thay vì đi theo lộ trình tuần tự, Việt Nam cần triển khai đồng thời cả ba trụ cột để rút ngắn quá trình phát triển và đáp ứng mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.

Xét về các động lực tăng trưởng, mô hình truyền thống vẫn dựa trên ba yếu tố chính: lao động, vốn và TFP. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ba yếu tố này đóng góp tương đối cân bằng, trong khi tại Việt Nam, vốn và TFP chiếm tỷ trọng lớn hơn. Điều này cho thấy dư địa cải thiện năng suất lao động vẫn còn rất lớn.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc phát huy đồng thời ba trụ cột này là điều kiện bắt buộc, giống như một “kiềng ba chân”. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là năng suất lao động mới tăng khoảng 5,2–5,3%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 8,5%. Kinh tế số cũng mới đóng góp khoảng 14% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 30%.

Đặc biệt, khu vực nông nghiệp, nơi có năng suất thấp cần được cải thiện mạnh mẽ thông qua ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng và đẩy mạnh chế biến sâu. Việc nâng tốc độ tăng trưởng của khu vực này lên mức 4,5–5% sẽ góp phần quan trọng vào mục tiêu chung của nền kinh tế.

Ổn định vĩ mô và bảo đảm các trụ cột “an ninh”

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp được xác định là lực lượng trung tâm, đóng vai trò dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, doanh nghiệp còn định hình xu hướng phát triển và lan tỏa đổi mới trong toàn hệ sinh thái.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Thị Trà My, Tổng Giám đốc The PAN Group, cho hay, mục tiêu tăng trưởng 2 con số mang đến cả cơ hội và thách thức. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô, thì hiện nay phải chuyển sang nâng cao chất lượng.

“Tăng trưởng không còn là làm nhiều hơn, mà là làm tốt hơn”, bà Trà My nhấn mạnh. Điều này đồng nghĩa với việc tối ưu hóa giá trị trên cùng một nguồn lực để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.

Thực tiễn từ doanh nghiệp, theo bà Trà My, trong bối cảnh biến động, đôi khi quyết định khó khăn nhất không phải là “thêm” bao nhiêu, mà lại chính là phải “bớt” đi cái gì. Thậm chí có khi ta phải bớt đi những thứ quen thuộc vốn là một phần của mình, những thứ vẫn có khả năng sinh lời tốt trong ngắn hạn. “Nếu chỉ được nói 1 câu, tôi cho rằng, phải dũng cảm tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nếu chưa đủ tốt”, bà Trà My nhấn mạnh. Đây chính là tư duy cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, yếu tố tiên quyết vẫn là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Theo các chuyên gia, cần tập trung kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững an toàn của hệ thống tài chính – bất động sản.

Mặt bằng lãi suất ổn định được xem là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đầu tư và sản xuất kinh doanh. Đồng thời, việc cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua cải thiện năng suất và giảm hệ số ICOR (thước đo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) cũng là yêu cầu cấp thiết.

TS. Cấn Văn Lực cho biết, ICOR của Việt Nam hiện ở mức khoảng 5 và cần giảm xuống 4 để nâng cao hiệu quả đầu tư. Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng và khả năng sử dụng vốn của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, bốn trụ cột “an ninh” cần được bảo đảm đồng bộ, gồm: an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh mạng, dữ liệu. Trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động, đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn gắn chặt với ổn định xã hội và an ninh quốc gia.

Với định hướng rõ ràng từ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cùng quyết tâm cải cách và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, mục tiêu tăng trưởng 2 con số không còn là tham vọng xa vời. Đây chính là “cửa sổ cơ hội” để Việt Nam bứt phá, tái định vị vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và tiến gần hơn tới khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết