Xuất khẩu thủy sản hướng tới mốc 11 tỷ USD: Nhiều thách thức cho nửa cuối năm
Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 6,85 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Nếu thuận lợi, cả năm có thể đạt 12,3-12,5 tỷ USD. Tuy nhiên, nửa cuối năm, logistics, chi phí, rào cản thương mại vẫn là thách thức lớn.
Xuất khẩu thủy sản hướng tới mốc 11 tỷ USD trong năm nay, các chuyên gia cũng nêu ra nhiều thách thức cho nửa cuối năm để có các kế hoạch bứt phá, đạt tăng trưởng như kỳ vọng.

Xuất khẩu thủy sản hướng tới mốc 11 tỷ USD trong năm nay. Ảnh minh họa: VGP
Với kim ngạch gần 7 tỷ USD trong 7 tháng qua, Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu duy trì tăng trưởng hai chữ số của xuất khẩu thủy sản năm 2026 là có cơ sở. Nếu giữ được nhịp độ hiện nay và tận dụng tốt nhu cầu tăng trong mùa tiêu dùng cuối năm, kim ngạch cả năm hoàn toàn có khả năng cán mốc 11 tỷ USD.
Tuy nhiên, phía sau kết quả khả quan vẫn là áp lực lớn về chi phí logistics, nguồn nguyên liệu, nhân lực và các rào cản thương mại.
Trong cơ cấu ngành hàng, tôm tiếp tục giữ vị trí là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam. 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ, chiếm khoảng 40,5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung của toàn ngành thủy sản, và được kỳ vọng tiếp tục là động lực quan trọng giúp ngành thủy sản hoàn thành mục tiêu xuất khẩu trong năm 2026.
Cá tra giữ vị trí thứ hai với 1,11 tỷ USD, tăng 11,7%. Mức tăng này cho thấy nhu cầu đối với cá thịt trắng giá hợp lý vẫn ổn định trong bối cảnh người tiêu dùng tại nhiều nước có xu hướng tiết kiệm chi tiêu. Các chuyên gia thủy sản nhận định, cá tra Việt Nam tiếp tục có lợi thế về giá, nguồn cung và khả năng chế biến linh hoạt, phù hợp nhiều kênh tiêu thụ.
Nhóm cá các loại khác cũng đạt khoảng 1,11 tỷ USD, tăng 11,4%, cho thấy cơ cấu xuất khẩu đang ngày càng đa dạng hơn.
Về thị trường, số liệu mới nhất vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố cho thấy, Trung Quốc tiếp tục là điểm đến lớn nhất với kim ngạch 1,39 tỷ USD, tăng gần 39% và chiếm hơn 24% tổng xuất khẩu. Tính cả Hồng Kông (Trung Quốc), kim ngạch đạt 1,47 tỷ USD, tăng 36%, chiếm 25,5% tổng giá trị toàn ngành.
Xuất khẩu sang Mỹ đạt 891 triệu USD, giảm nhẹ 0,8%. Tuy nhiên, riêng trong tháng 6, kim ngạch tăng mạnh 43%, lên gần 189 triệu USD, phản ánh xu hướng doanh nghiệp và nhà nhập khẩu đẩy nhanh giao hàng trước những thay đổi về chính sách thuế và thương mại.
Nhật Bản đạt 801 triệu USD, tăng 2,3%; Hàn Quốc đạt 412 triệu USD, tăng 7%; Australia đạt gần 177 triệu USD, tăng hơn 15%. Trong khi đó, xuất khẩu sang EU đạt 535 triệu USD, giảm 1,1%.
Xét theo khối thị trường, CPTPP tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch 1,52 tỷ USD, tăng 9,1%; ASEAN đạt gần 396 triệu USD, tăng hơn 20%. Diễn biến này cho thấy các thị trường châu Á và khu vực CPTPP đang đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp sự chững lại của Mỹ và EU.
Dù vậy, triển vọng nửa cuối năm vẫn đối mặt nhiều thách thức khi với doanh nghiệp Việt Nam, chi phí logistics vẫn là áp lực lớn. Cùng với cước tàu, các khoản phụ phí container lạnh, nhiên liệu, lưu kho và điều chỉnh lịch trình vận chuyển tiếp tục làm gia tăng chi phí xuất khẩu.
Dù kết quả những tháng qua tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng cả năm, các doanh nghiệp vẫn chưa thể lạc quan khi nhiều yếu tố bất định đang gia tăng trong những tháng còn lại cuối năm.
Đối với ngành tôm, thị trường đang xuất hiện sự lệch pha giữa sản xuất trong nước và nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường. Ngoài áp lực về giá, ngành tôm Việt Nam còn phải đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại.
Đối với cá tra, chi phí sản xuất gia tăng đang ảnh hưởng rõ rệt đến tâm lý thả nuôi và kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nhiều điểm sáng tích cực cũng mở lối cho xuất khẩu thủy sản. Đáng chú ý phải kể đến việc Việt Nam và Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu – EFTA, gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein, hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại tự do là một tín hiệu tích cực. Từ góc nhìn ngành thủy sản, FTA Việt Nam – EFTA mở ra cơ hội có thêm một nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao và phù hợp với định hướng nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.
Về dài hạn, EFTA có thể trở thành một “ngách” thị trường giá trị cao, góp phần giúp thủy sản Việt Nam không chỉ bán nhiều hơn, mà bán tốt hơn, bền vững hơn và có vị thế cao hơn trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu.
Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đánh giá, kết quả đạt 6,85 tỷ USD sau 7 tháng là nền tảng tích cực cho mục tiêu xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD trong năm 2026.
Để đạt mục tiêu đề ra, nửa cuối năm, ngành thủy sản cần đồng thời giữ đà tại các thị trường tăng trưởng như Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc; củng cố tuân thủ tại Mỹ, EU, Nhật Bản; kiểm soát tốt chi phí đầu vào và logistics; đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng; và đặc biệt hiệu quả sẽ rõ nét khi doanh nghiệp tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do.
Theo số liệu vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 7/2026 ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ.
Lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4%; lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%; thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%...


















