Gỡ những ‘nút thắt’ để chương trình khám chữa bệnh cho người dân từ cơ sở sớm thực thi
Một bệnh nhân tăng huyết áp ở phường Bạch Mai (Hà Nội) từng phải xếp hàng từ sáng sớm tại bệnh viện tuyến trung ương chỉ để lấy đơn thuốc quen thuộc; hay như bệnh nhân đái tháo đường khác quê Ninh Bình dù sống cách trạm y tế chưa đầy một cây số vẫn chọn bắt xe lên bệnh viện vì “ở dưới không có đủ thuốc, cũng không yên tâm”.
Những câu chuyện ấy phản ánh thực tế tồn tại nhiều năm của y tế cơ sở: Người dân chưa thực sự tin tưởng, còn các trạm y tế thì loay hoay giữa bài toán thiếu nhân lực, thiếu thiết bị và thiếu cả cơ chế giữ chân bác sĩ giỏi.
Trong cuộc trao đổi dài với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, Thạc sĩ - BSCK II Nguyễn Thu Hường, Trưởng khoa Bệnh nghề nghiệp, Bệnh viện Thanh Nhàn cho biết bệnh viện đang trực tiếp hỗ trợ chuyên môn cho nhiều trạm y tế tại Hà Nội theo mô hình “cầm tay chỉ việc”, từ khám chữa bệnh, đào tạo nhân lực đến hỗ trợ thuốc men, trang thiết bị và chuyển giao kỹ thuật. Phía sau câu chuyện hỗ trợ tuyến cơ sở là bức tranh nhiều lớp về tham vọng xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân, giúp người dân được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng ngay tại địa phương thay vì dồn lên tuyến trên.
Theo bác sĩ Hường, đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về “một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”. Nghị quyết được xem là “bản thiết kế tổng thể” nhằm nâng cao sức khỏe, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng sống của người Việt Nam, đồng thời đặt nền móng cho chiến lược phát triển dài hạn của ngành y tế.

Từ định hướng này, toàn ngành y tế đang triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp để nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống, với mục tiêu giúp người dân sớm được thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy quản trị, tổ chức và vận hành hệ thống y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương.
Một trạm y tế quản lý tới 150.000 dân
Hiện Bệnh viện Thanh Nhàn đang hỗ trợ chuyên môn cho 5 trạm y tế trên địa bàn Hà Nội gồm Hai Bà Trưng, Bạch Mai, Vĩnh Tuy, Ngọc Hồi và Thịnh Liệt.
Trong đó, Trạm y tế Hai Bà Trưng và Trạm y tế Bạch Mai là hai điểm “nóng” được tập trung hỗ trợ mạnh nhất.
Theo bác sĩ Hường, đây đều là những khu vực có mật độ dân cư cực lớn, mỗi địa bàn quản lý khoảng 130.000-150.000 dân, đồng thời số lượng người bệnh mãn tính được quản lý cũng rất cao.
“Chúng tôi khảo sát thấy áp lực ở hai trạm này đặc biệt lớn. Họ phải quản lý số lượng bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch… rất đông nhưng nhân lực lại thiếu nghiêm trọng”, bác sĩ Hường nói.
Điều đáng chú ý là giữa “năng lực trên giấy” và khả năng vận hành thực tế vẫn tồn tại khoảng cách rất lớn.
Trạm y tế Hai Bà Trưng hiện được phê duyệt hơn 300 danh mục kỹ thuật, trong khi Trạm y tế Bạch Mai được phê duyệt hơn 1.000 danh mục. Nhưng theo bác sĩ Hường, nhiều kỹ thuật dù đã được phê duyệt vẫn không thể triển khai vì thiếu bác sĩ, thiếu trang thiết bị hoặc vướng thuốc men, vật tư.
“Nói thật là danh mục thì có rất nhiều nhưng không có người làm. Không có bác sĩ chẩn đoán hình ảnh thì không siêu âm được, không đọc X-quang được. Có kỹ thuật nhưng không vận hành nổi”, bác sĩ Hường chia sẻ.
Người dân lên thẳng bệnh viện vì ở đó có thuốc tốt hơn
Lý do, theo bác sĩ Hường, rất đơn giản: “Người dân tin bệnh viện hơn. Bệnh nhân lên tuyến trên vì họ nghĩ ở đây có bác sĩ tốt hơn, xét nghiệm tốt hơn, thuốc tốt hơn. Điều trị hiệu quả thì họ tin. Nhưng khi chuyển về trạm y tế, nhiều nơi lại không có đủ thuốc tương đương nên bệnh nhân phải tự mua thêm hoặc lại quay ngược lên bệnh viện”.
Đó cũng là lý do Bệnh viện Thanh Nhàn hiện phải “cầm tay chỉ việc” cho các trạm y tế, từ hỗ trợ bác sĩ chuyên khoa xuống khám hàng tuần, chuyển giao kỹ thuật, đến hỗ trợ đấu thầu thuốc men để người dân được điều trị liên tục.
Mô hình được triển khai theo hướng: bệnh nhân ổn định sẽ được chuyển về trạm y tế quản lý; những ca có biến chứng nặng hoặc cần điều trị chuyên sâu tiếp tục theo dõi tại bệnh viện.
“Ví dụ bệnh nhân đái tháo đường điều trị ổn định bằng thuốc viên thì có thể quản lý ở trạm y tế. Nhưng nếu phải dùng insulin phức tạp hoặc có biến chứng thì bệnh viện sẽ giữ lại theo dõi”, bác sĩ Hường cho biết.
Mục tiêu lớn nhất là để người dân có thể tiếp cận bác sĩ chất lượng ngay tại nơi mình sống, giảm cảnh chen chúc lên tuyến trên.

Một xét nghiệm phải làm đi làm lại nhiều lần
Một trong những bất cập khiến cả người bệnh lẫn hệ thống y tế tốn kém là tình trạng thiếu liên thông dữ liệu khám chữa bệnh.
“Có bệnh nhân vừa làm xét nghiệm ở nơi này xong, sang bệnh viện khác lại phải làm lại từ đầu. Rất lãng phí”, bác sĩ Hường nói.
Nhiều xét nghiệm cơ bản hoàn toàn có thể được công nhận giữa các cơ sở y tế nếu có hệ thống chuẩn hóa và liên thông dữ liệu.
“Khi bệnh nhân đến khám, bác sĩ chỉ cần mở hồ sơ điện tử là biết người này từng điều trị ở đâu, làm xét nghiệm gì, dùng thuốc ra sao. Như thế vừa tiết kiệm tiền, vừa rút ngắn thời gian chẩn đoán”, bác sĩ Hường đặt câu hỏi.
Đặc biệt với bệnh nhân mãn tính – nhóm phải theo dõi suốt đời, hồ sơ sức khỏe điện tử được xem là “xương sống” của chiến lược khám sức khỏe toàn dân.
Tại Bệnh viện Thanh Nhàn, hệ thống bệnh án điện tử đã được triển khai khá hoàn chỉnh.
“Chỉ cần nhập tên bệnh nhân là có thể xem toàn bộ lịch sử khám chữa bệnh, các lần nhập viện, xét nghiệm, thuốc điều trị…”, bác sĩ Hường cho biết.
Tuy nhiên, ở tuyến y tế cơ sở, câu chuyện hoàn toàn khác. Các trạm y tế hiện còn rất yếu về công nghệ thông tin. Đầu tư hạ tầng cho số hóa dữ liệu là cực kỳ tốn kém. Riêng Thanh Nhàn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho công nghệ thông tin để hướng tới mô hình bệnh viện thông minh.
Nỗi lo lớn nhất: Lộ dữ liệu sức khỏe cá nhân
Theo bác sĩ Hường, đây là vấn đề bắt buộc phải được bảo mật tuyệt đối.
“Mỗi bệnh nhân phải có mã ID riêng giống căn cước công dân. Người bệnh có quyền quyết định ai được biết thông tin của mình”, bà nhấn mạnh.
Kể về một nam sinh 18 tuổi phát hiện nhiễm HIV trong quá trình khám bệnh sau nhiều năm đi lại điều trị mà chưa được chẩn đoán chính xác. Bác sĩ Hường tâm sự: “Khi có kết quả, bạn ấy yêu cầu không tiết lộ với bất kỳ người thân nào. Đến giờ chỉ có bác sĩ điều trị và cán bộ y tế trực tiếp quản lý biết thông tin đó. Đó là quyền của người bệnh”.
Theo đó, nếu hệ thống dữ liệu y tế không đủ an toàn, người dân sẽ mất niềm tin và e ngại tiếp cận khám chữa bệnh.
“Chính sách số hóa hồ sơ sức khỏe rất nhân văn, nhưng muốn làm được thì phải có hệ thống bảo mật cực kỳ chặt chẽ”, bà nói.

“Trạm y tế không thiếu máy, cái thiếu nhất là bác sĩ”
Có một nghịch lý đang tồn tại ở nhiều địa phương: Trạm y tế được xây mới khang trang, đầu tư máy móc nhưng vẫn vắng bệnh nhân. Theo bác sĩ Hường, nguyên nhân cốt lõi nằm ở bài toán nhân lực.
“Không phải trạm thiếu tiền hay thiếu máy móc. Cái thiếu nhất là bác sĩ”, bác sĩ Hường khẳng định.
Dẫn chứng cho thấy, một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh hiện có thể thu nhập 50-70 triệu đồng/tháng ở khu vực tư nhân hoặc làm việc ngoài giờ. Trong khi đó, trạm y tế không đủ cơ chế đãi ngộ để giữ chân họ.
“Người ta bỏ tiền đi học nên người ta có quyền lựa chọn nơi làm việc. Nếu không có chính sách đặc biệt thì rất khó kéo bác sĩ giỏi về tuyến cơ sở”, bác sĩ Hường phân tích.
Nữ bác sĩ cho rằng, muốn giải quyết tận gốc vấn đề này phải có chiến lược dài hơi, từ hỗ trợ đào tạo, ràng buộc thời gian công tác cho đến cơ chế lương, phụ cấp đủ hấp dẫn.
“Nếu không có con người thì trạm y tế vẫn chỉ là cái vỏ”, bà nói.

Một chính sách nhân văn nhưng cần cả hệ thống cùng chạy
Bác sĩ Hường cũng thẳng thắn thừa nhận, khám sức khỏe toàn dân, hồ sơ sức khỏe điện tử hay tăng cường năng lực y tế cơ sở đều là những chính sách rất nhân văn. Bởi người Việt thường chỉ đi khám khi bệnh đã nặng.
Tuy nhiên, để những chính sách ấy thực sự phát huy hiệu quả, không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu hay những mô hình thí điểm riêng lẻ. Đó phải là một cuộc cải tổ đồng bộ từ nhân lực, thuốc men, công nghệ, cơ chế tài chính cho tới liên thông dữ liệu y tế.
Quan trọng hơn cả là phải tạo dựng được niềm tin để người dân tin rằng: Ngay tại trạm y tế gần nhà, họ vẫn có thể được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, an toàn và đủ năng lực điều trị bệnh. Nếu tuyến y tế cơ sở không đủ mạnh, các bệnh viện tuyến trên sẽ tiếp tục trong tình trạng quá tải, còn người bệnh vẫn mắc kẹt trong vòng xoáy đi khám xa, tốn kém chi phí và chờ đợi kéo dài.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết, đơn vị đang cụ thể hóa Nghị quyết 72-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 282/NQ-CP bằng hàng loạt nhóm giải pháp mang tính hành động.
Trọng tâm là đổi mới tư duy quản lý, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nhân lực, cải cách tài chính y tế, thúc đẩy khoa học - công nghệ và huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Bộ Y tế xác định phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn ngành; đồng thời tổ chức lại công tác truyền thông, giáo dục theo hướng bài bản hơn để toàn bộ hệ thống nhận thức rõ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành y tế mà là trọng tâm của chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Song song với đó, ngành y tế đang đẩy mạnh cải cách quản trị, xây dựng môi trường điều hành minh bạch, tăng trách nhiệm giải trình, gắn với cải cách thủ tục hành chính và phân cấp, phân quyền rõ ràng. Các giải pháp phòng, chống lạm dụng, trục lợi chính sách và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cũng được triển khai đồng bộ.
Thạc sĩ - BSCK II Nguyễn Thu Hường, Trưởng khoa Bệnh nghề nghiệp, Bệnh viện Thanh Nhàn đã kể chi tiết hành trình bệnh viện tuyến thành phố “cầm tay chỉ việc” cho các trạm y tế ở Hà Nội. Thực hiện: Dương Khánh


















