• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bộ Tài chính chuẩn hóa đặc điểm dịch vụ trên thị trường chứng khoán

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BTC quy định cụ thể đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của hàng loạt dịch vụ trên thị trường chứng khoán, tạo cơ sở minh bạch cho hoạt động định giá và vận hành hệ thống.

Hoàn thiện khung đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cho dịch vụ chứng khoán

Ngày 30/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BTC quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán do Nhà nước định giá, áp dụng đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và các công ty con, cùng Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) và các công ty con.

Bộ Tài chính chuẩn hóa đặc điểm dịch vụ trên thị trường chứng khoán
Thông tư số 34/2026/TT-BTC được kỳ vọng tạo nền tảng minh bạch cho định giá dịch vụ trên thị trường chứng khoán.

Thông tư gồm 3 điều và một phụ lục kèm theo, trong đó phụ lục là phần nội dung trọng tâm, quy định chi tiết danh mục dịch vụ, tên gọi và đặc điểm cơ bản của từng dịch vụ làm căn cứ cho việc định giá theo cơ chế Nhà nước.

Đối với VNX, Thông tư quy định hệ thống dịch vụ bao trùm toàn bộ hoạt động tổ chức và vận hành thị trường, bao gồm quản lý thành viên; đăng ký và quản lý niêm yết; tổ chức giao dịch; kết nối trực tuyến; sử dụng thiết bị đầu cuối; đấu giá, dựng sổ; cùng các hoạt động đấu thầu phát hành, mua lại và hoán đổi công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

Đồng thời, các dịch vụ liên quan đến thị trường chứng khoán phái sinh cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh, gồm đăng ký thành viên, quản lý thành viên và tổ chức giao dịch chứng khoán phái sinh, góp phần hoàn thiện cấu trúc thị trường theo hướng hiện đại.

Đối với TVSDC, danh mục dịch vụ do Nhà nước định giá được quy định theo hướng bao quát toàn bộ chu trình hậu giao dịch. Các dịch vụ bao gồm quản lý thành viên lưu ký; đăng ký, hủy đăng ký và điều chỉnh thông tin chứng khoán; lưu ký; chuyển khoản; thực hiện quyền; xử lý lỗi sau giao dịch; chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch.

Bên cạnh đó, Thông tư quy định rõ các dịch vụ tài chính - thanh toán như thanh toán gốc, lãi và tiền mua lại đối với trái phiếu Chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương; thanh toán tín phiếu kho bạc; cùng dịch vụ vay và cho vay chứng khoán qua hệ thống.

Theo Bộ Tài chính, việc xác lập khung đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cho các dịch vụ nêu trên nhằm chuẩn hóa thông tin, tạo cơ sở minh bạch cho công tác định giá, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành thị trường chứng khoán.

Một số quy định chi tiết đặc điểm dịch vụ theo từng nhóm nghiệp vụ

Phụ lục kèm theo Thông tư là nội dung cốt lõi, quy định cụ thể đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng dịch vụ, được cấu trúc thành hai nhóm lớn tương ứng với hai chủ thể cung cấp dịch vụ trên thị trường.

Đối với VNX, các dịch vụ được phân thành 2 mảng chính là thị trường chứng khoán cơ sở và thị trường chứng khoán phái sinh. Trong đó, nhóm dịch vụ thị trường cơ sở được thiết kế theo chuỗi vận hành từ quản lý thành viên, đăng ký và thay đổi niêm yết đến quản lý niêm yết và tổ chức giao dịch.

Hoạt động quản lý niêm yết được phân loại theo quy mô giá trị chứng khoán, trong khi hoạt động giao dịch được mô tả chi tiết theo từng loại tài sản như cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, công cụ nợ Chính phủ, UPCoM… Đồng thời, các loại hình giao dịch như giao dịch thông thường, giao dịch repo, mua - bán kết hợp hay vay và cho vay công cụ nợ cũng được phân tách theo kỳ hạn (đến 2 ngày, từ 3-14 ngày và trên 14 ngày), phản ánh đặc thù kỹ thuật của từng nghiệp vụ.

Các dịch vụ hạ tầng như kết nối trực tuyến, sử dụng thiết bị đầu cuối, đấu giá và dựng sổ, đấu thầu trái phiếu cũng được chuẩn hóa về quy trình kỹ thuật và phạm vi cung cấp.

Đối với thị trường chứng khoán phái sinh, phụ lục quy định ba nhóm dịch vụ chính gồm đăng ký thành viên, quản lý thành viên và tổ chức giao dịch, với các đặc điểm kỹ thuật gắn với quy trình tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra điều kiện và vận hành hệ thống giao dịch.

Trong khi đó, đối với VSDC, phụ lục tập trung vào toàn bộ chu trình hậu giao dịch với cấu trúc dịch vụ chi tiết và phân tầng theo tính chất nghiệp vụ.

Nhóm dịch vụ đăng ký và quản lý chứng khoán được phân loại theo quy mô giá trị (dưới 80 tỷ đồng; từ 80–200 tỷ đồng; trên 200 tỷ đồng), gắn với các yêu cầu kỹ thuật về tiếp nhận hồ sơ, ghi nhận thông tin và quản lý tập trung. Tiếp đến là các dịch vụ lưu ký, chuyển khoản chứng khoán phục vụ thanh toán và chuyển dịch tài sản giữa các tài khoản nhà đầu tư.

Dịch vụ thực hiện quyền cho nhà đầu tư được phân loại theo quy mô số lượng nhà đầu tư (dưới 500; 500–1.000; 1.000–5.000; trên 5.000), phản ánh mức độ phức tạp trong xử lý dữ liệu và phân bổ quyền.

Bên cạnh đó, phụ lục cũng quy định chi tiết các dịch vụ xử lý lỗi sau giao dịch, chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch với nhiều trường hợp cụ thể như chuyển nhượng hạn chế, thừa kế, sáp nhập doanh nghiệp, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài hoặc xử lý tài sản bảo đảm.

Ngoài ra, các dịch vụ liên quan đến vay và cho vay chứng khoán cũng được chuẩn hóa về quy trình theo dõi, quản lý giao dịch và kiểm soát rủi ro, góp phần hỗ trợ thanh khoản và ổn định thị trường.

Thông tư số 34/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2026. Đọc thêm Thông tư tại đây!


Nguồn:https://tapchikinhtetaichinh.vn/bo-tai-chinh-chuan-hoa-dac-diem-dich-vu-tren-thi-truong-chung-khoan-152440.html Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết