Đưa giáo dục đại học trở thành hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia
Ngày 21-9, Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã được phê duyệt tại Quyết định số 1810/QĐ-TTg ngày 18-9-2026.
Mục tiêu lớn nhất của Chiến lược là đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong 12 tháng. Những con số này phải được chuyển hóa thành chất lượng và hiệu quả thực chất.
Hệ thống giáo dục đại học được phân loại theo nhóm: Giáo dục đại học đại chúng để mở rộng cơ hội tiếp cận; các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; một số đại học tinh hoa phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Đây không phải là phân hạng hành chính, mà là xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm và cơ chế đầu tư của từng nhóm cơ sở.
Chiến lược nêu rõ lấy chất lượng đầu ra và tác động kinh tế - xã hội làm thước đo. Chất lượng phải được thể hiện qua năng lực người học, việc làm sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mức độ đóng góp cho ngành, địa phương và đất nước.
Nhà nước đầu tư theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả; nhà trường phát triển bằng năng lực thực và chịu trách nhiệm về kết quả thực.
![]() |
Chiến lược đề ra mục tiêu đưa giáo dục đại học trở thành hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia. |
Trong đào tạo, trường đại học phải chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”.
Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp phải trở thành căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo. Các ngành không bảo đảm chất lượng hoặc nhu cầu thấp phải được rà soát; các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và ngành thiết yếu cần được hỗ trợ bằng học bổng, đặt hàng và giao nhiệm vụ.
Đối với người học, chương trình sẽ linh hoạt và gắn với thực tiễn hơn, tăng học qua dự án, thực hành, thực tập và hợp tác với doanh nghiệp. Thông tin về chất lượng chương trình, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp phải được công khai, kiểm chứng để người học lựa chọn có căn cứ.
Tinh thần xuyên suốt là “thực học, thực nghiệp, thực chất”: Học thật, thi thật, đánh giá đúng năng lực và tốt nghiệp với năng lực làm việc thực sự. Bằng cấp phải phản ánh đúng năng lực, không thể thay thế năng lực.
Chiến lược xác định không thể nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu nếu tiếp tục đầu tư nhỏ lẻ, phân tán hoặc chỉ chú trọng giảng đường. Hạ tầng đại học hiện đại phải bao gồm đồng bộ phòng thí nghiệm, hạ tầng số, dữ liệu, trung tâm tính toán và không gian đổi mới sáng tạo.
Chiến lược đặt ra bộ chỉ số cốt lõi của giáo dục đại học, tập trung vào năm nhóm: Chất lượng đào tạo và việc làm của người học; năng lực đội ngũ; kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực; mức độ đóng góp cho xã hội, ngành, vùng và đất nước.
Dữ liệu sẽ được cập nhật trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia và từng bước kết nối với dữ liệu khoa học, công nghệ, việc làm, bảo hiểm, thuế. Khi dữ liệu đủ tin cậy, cơ quan quản lý có thể giảm báo cáo hành chính trùng lặp, tăng giám sát và hậu kiểm; đồng thời sử dụng kết quả để cảnh báo chất lượng, giao nhiệm vụ và phân bổ nguồn lực.




















