• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trường hợp nào bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp?

* Bạn đọc Ngô Minh Thư ở xã Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết trường hợp nào bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp?

Trả lời: Vấn đề bạn hỏi được quy định tại khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024. Cụ thể như sau:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận;

đ) Giấy chứng nhận đã cấp bị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy;

e) Trường hợp đấu giá, giao quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của Tòa án, cơ quan thi hành án mà người phải thi hành án không nộp giấy chứng nhận đã cấp.

* Bạn đọc Nguyễn Thu Phương ở phường Tương Mai, TP Hà Nội, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết việc xử phạt vi phạm hành chính trên địa bàn TP Hà Nội được áp dụng như thế nào?

Trả lời: Vấn đề bạn hỏi được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026. Cụ thể như sau:

a) HĐND thành phố quy định chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; chính sách đầu tư nguồn lực để bảo đảm quản lý nhà nước tập trung, thống nhất, hiệu quả trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, trật tự đô thị của thành phố;

b) HĐND thành phố quy định mức tiền phạt vi phạm hành chính trên địa bàn thành phố cao hơn nhưng không quá 2 lần mức tiền phạt chung và thẩm quyền phạt tiền tương ứng do Chính phủ quy định đối với hành vi vi phạm hành chính tương ứng trong các lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, đất đai, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết