• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính sách tiền tệ trong thế đồng bộ – linh hoạt – có trọng tâm

Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ và Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.

Chính sách tiền tệ trong thế đồng bộ – linh hoạt – có trọng tâm
Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt để góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng. Ảnh: Internet

Chủ động, linh hoạt trong dư địa hẹp

Bước vào năm 2026 – năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026–2030, đồng thời là năm bản lề mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, yêu cầu đặt ra đối với điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ, không chỉ là hỗ trợ tăng trưởng mà còn phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Trong bối cảnh đó, Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải chủ động nắm chắc diễn biến tình hình quốc tế và trong nước, nâng cao năng lực phân tích, dự báo, phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ.

Riêng về chính sách tiền tệ, Công điện số 06/CĐ-TTg đã chỉ rõ yêu cầu đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là phải tập trung theo dõi sát tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá nhằm thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn.

Việc điều hành lãi suất và tỷ giá được yêu cầu phải phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ, quản lý chặt chẽ thị trường ngoại hối, ổn định giá trị đồng Việt Nam. Điều này càng quan trọng trong bối cảnh lạm phát toàn cầu dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ quay trở lại, còn chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn vẫn khó lường.

Một điểm nhấn quan trọng khác trong Công điện số 06/CĐ-TTg là yêu cầu tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Đồng thời, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Tinh thần này hoàn toàn nhất quán với Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, khi Chính phủ cũng nhấn mạnh việc hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ở góc độ doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp sản xuất cho biết, điều họ cần không chỉ là mặt bằng lãi suất hợp lý, mà quan trọng hơn là khả năng tiếp cận tín dụng ổn định, dự báo được. Do vậy, việc chính sách tiền tệ định hướng rõ ràng dòng vốn vào sản xuất, hạ tầng, công nghệ số, nhà ở xã hội… sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch trung và dài hạn.

Chính sách tiền tệ trong thế đồng bộ – linh hoạt – có trọng tâm

Năm 2026, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 15%, có điều chỉnh (tăng hoặc giảm) phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Mục tiêu này thấp hơn so với mức đạt được năm 2025 (19,01%), nhưng theo nhiều nhận định, mục tiêu thấp hơn không có nghĩa thắt chặt tín dụng mà là chiến lược “hạ cánh mềm” giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.

Báo cáo thông tin kinh tế - tài chính tổng quan 2025 và triển vọng 2026 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cho biết, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, tín dụng sẽ cần tiếp tục tăng tốc, nhiều tổ chức phân tích dự báo tín dụng năm 2026 cần phải đạt 20% hoặc cao hơn.

Tuy nhiên, theo VNBA, điều này sẽ đặt ra hai thách thức. Một là hệ số LDR (hệ số cho vay trên tiền gửi) có thể tiếp tục tăng, gây sức ép lên thanh khoản và lãi suất nếu huy động vốn tăng chậm. Hai là tốc độ tăng trưởng tín dụng cao có thể ảnh hưởng đến chất lượng dư nợ, đặc biệt nếu nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) tiếp tục gia tăng.

Ngoài ra, với những cảnh báo về việc tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức cao, ước khoảng 147% đến cuối năm 2025, thì việc giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng cần được chú ý. TS. Cấn Văn Lực - thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng 16–17% mỗi năm, đến năm 2030, tỷ lệ này có thể lên tới 180–185% GDP, thuộc nhóm cao nhất thế giới.

Phối hợp tài khóa – tiền tệ để tăng trưởng

Một điểm đáng chú ý trong Công điện số 06/CĐ-TTg là yêu cầu NHNN khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 01/2026.

Yêu cầu này nhằm hướng tới việc hoàn thiện các thị trường tài chính, trong đó có thị trường vàng, giúp tăng tính minh bạch và ổn định.

Song song với yêu cầu thúc đẩy tín dụng, Công điện số 06/CĐ-TTg đặt ra nhiệm vụ tích cực xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, triển khai hiệu quả phương án cơ cấu lại các ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt. Tăng cường xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu mới phát sinh.

Trước đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP cũng nhấn mạnh việc triển khai quyết liệt cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng bền vững.

Theo các chuyên gia ngân hàng, đây là điều kiện tiên quyết để chính sách tiền tệ phát huy hiệu quả. Một hệ thống ngân hàng lành mạnh mới có thể truyền dẫn chính sách tiền tệ thông suốt tới nền kinh tế. Nếu nợ xấu gia tăng hoặc các tổ chức tín dụng yếu kém không được xử lý dứt điểm, dư địa cho nới lỏng tiền tệ sẽ bị thu hẹp đáng kể.

Cả Nghị quyết số 01/NQ-CP và Công điện số 06/CĐ-TTg đều nhấn mạnh yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Công điện số 06/CĐ-TTg nêu rõ việc tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Trong khi đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP khẳng định phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác.

Theo giới phân tích, trong năm 2026, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò “mở đường”, đặc biệt thông qua đầu tư công, phát hành trái phiếu Chính phủ và các chính sách hỗ trợ thuế, phí. Chính sách tiền tệ sẽ giữ vai trò điều tiết, bảo đảm thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ – ngoại hối và kiểm soát lạm phát. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách này sẽ quyết định khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Tổng thể cho thấy, điều hành chính sách tiền tệ năm 2026 không còn nhiều dư địa để “đánh đổi”, mà buộc phải vận hành trong thế cân bằng chặt chẽ giữa hỗ trợ tăng trưởng và giữ ổn định. Khi tín dụng được dẫn dắt đúng trọng tâm, hệ thống ngân hàng được củng cố lành mạnh và chính sách tài khóa phối hợp nhịp nhàng, chính sách tiền tệ sẽ trở thành một trụ cột quan trọng giúp nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh hơn, nhưng bền vững và an toàn hơn.


Nguồn:https://tapchikinhtetaichinh.vn/chinh-sach-tien-te-trong-the-dong-bo-linh-hoat-co-trong-tam-142909.html Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết